Luật Hùng Sơn
Tổng đài tư vấn luật 24/7 1900 6518

Khi nào thì người lao động phải bồi thường cho doanh nghiệp

  • Luật Hùng Sơn |
  • 15-10-2019 |
  • Doanh nghiệp ,

Để bảo vệ quyền lợi cho người lao động thì pháp luật hiện nay quy định rất nhiều Điều luật trong các Bộ luật, Luật, Nghị định,… để bảo vệ tối đa cho người lao động. Tuy nhiên, để đảm bảo công bằng giữa người lao động và doanh nghiệp thì pháp luật có quy định thêm các Điều luật để bảo vệ doanh nghiệp, cụ thể là người lao động phải bồi thường cho doanh nghiệp nếu rơi vào các trường hợp dưới đây.

1. Trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật

Theo Điều 37 Bộ Luật lao động thì người lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không trái luật  trong các trường hợp như người sử dụng lao động không trả lương, hành hạ, bị ngược đãi, bóc lột sức lao động, quấy rối tình dục,…

Có nghĩa là nếu người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao đông nhưng không thuộc các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại Điều 37 Bộ luật lao động hoặc trường hợp không thực hiện đúng thời gian báo trước nghỉ việc cho người sử dụng lao động thì xem như người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật. Việc này sẽ gây ra hậu quả pháp lý bất lợi đối với người lao động khi nghỉ việc, nhiều trường hợp phải bồi thường cho doanh nghiệp

Hành vi đơn phương nghỉ việc trái luật này của người lao động một phần làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp do đó có thể sẽ phải bồi thường cho doanh nghiệp. Cụ thể theo Điều 43 Bộ luật Lao động, người lao động sẽ phải bồi thường cho doanh nghiệp những khoản tiền dưới đây:

  • Nửa tháng tiền lương được tính dựa trên hợp đồng lao động giao kết giữa các bên;
  • Trong trường hợp vi phạm về thời hạn báo trước cho doanh nghiệp thì phải trả một khoản tiền tương ứng với só tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước đó;
  • Chi phí đào tạo người lao động (nếu có)

Ngoài ra, khi nghỉ việc người lao động không được nhận khoản trợ cấp thôi việc.

người lao động bồi thường cho doanh nghiệp

2. Trường hợp làm mất, hỏng dụng cụ, thiết bị

Đối với trường hợp làm hỏng dụng cụ hoặc mất dụng cụ thì dù trong quan hệ lao động hay quan hệ dân sự thì trường hợp gây thiệt hại về tài sản như này thì nghĩa vụ bồi thường là điều hiển nhiên. Trong quan hệ lao động nó được cụ thể hóa tại Điều 130 BLLĐ, người lao động phải bồi thường cho doanh nghiệp nếu rơi vào các trường hợp sau đây:

  •  Làm hư hỏng thiết bị, dụng cụ hoặc có hành vi khác dẫn đến  thiệt hại tài sản của doanh nghiệp;
  •  Làm mất thiết bị, dụng cụ, tài sản của doanh nghiệp hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao;
  •  Tiêu hao vật tư quá định mức cho phép.

Theo quy định trên, thì tùy thuộc vào giá trị tài sản bị hư hỏng, tiêu hao hay bị mất mới có thể xác định được cụ thể mức bồi thường tương ứng là bao nhiêu. Nhưng đối với trường hợp do thiên tai, hoả hoạn,…, các sự kiện xảy ra khách quan khác dẫn đến thiệt hại các dụng cụ của doanh nghiệp mặc dù đã áp dụng tất cả các biện pháp cần thiết và làm hết khả năng cho phép mà dụng cụ, thiết bị,.. vẫn bị thiệt hại thì người lao động trong trường hợp này không phải bồi thường.

3. Trường hợp vi phạm bí mật kinh doanh, công nghệ

Đối với các ngành nghề liên quan đến bí mật kinh doanh, công nghệ, trước khi nhận người lao động vào làm việc để đảm bảo thì người sử dụng lao động và người lao động phải trực tiếp giao kết hợp đồng lao động và nội dung trong hợp đồng phải thể hiện rõ đầy đủ nội dung, thời hạn bảo vệ bí mật công nghệ, bảo vệ bí mật kinh doanh, quyền lợi và việc bồi thường cho doanh nghiệp trong trường hợp người lao động vi phạm quy định tại Điều 18 Bộ luật Lao động 2012.

Bởi vì, bí mật kinh doanh, công nghệ là sản phẩm của trí tuệ con người, nó được xem là một loại tài sản của doanh nghiệp. Do đó, nếu vi phạm bí mật kinh doanh, công nghệ này dẫn đến gây thiệt hại cho doanh nghiệp thì phải bồi thường

Tóm lại, nếu người lao động rơi vào ba trường hợp trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật, trường hợp làm mất, hỏng dụng cụ, thiết bị, trường hợp vi phạm bí mật kinh doanh, công nghệ thì phải bồi thường cho doanh nghiệp tùy vào giá trị thiệt hại mà có mức bồi thường tương ứng

    Trả lời

    Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.


    Bài viết liên quan

    Hotline